(+84) 236.3827111 ex. 402

Bài viết - TS. Dương Thị Thanh Hiền - NGHIÊN CỨU VIỆC SỬ DỤNG CÁC DỊCH VỤ KẾ TOÁN ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG


NGHIÊN CỨU VIỆC SỬ DỤNG CÁC DỊCH VỤ KẾ TOÁN ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG

 

T.S Dương Thị Thanh Hiền

Tóm tắt

Nghiên cứu khám phá ảnh hưởng về mức độ sử dụng dịch vụ kế toán (DVKT) trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, các lợi ích đạt được về tính tuân thủ và tính quản trị khi sử dụng DVKT và từ đó tác động đến hiệu quả hoạt động (HQHĐ) của các DN. Trên cơ sở lược khảo tài liệu cũng như các lý thuyết liên quan, tác giả xây dựng, đề xuất mô hình nghiên cứu tác động của việc sử dụng DVKT đến HQHĐ của các DNNVV trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Mô hình bao gồm các giả thuyết về các mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp của các biến xoay quanh việc sử dụng các DVKT. Một phương pháp tiếp cận hỗn hợp đã được sử dụng, bắt đầu bằng các cuộc phỏng vấn chuyên gia và sau đó là các cuộc khảo sát bằng bảng câu hỏi. Kết quả phân tích từ 358 mẫu dữ liệu cho thấy hầu hết các mối quan hệ giả định đều có ý nghĩa thống kê, ngoại trừ các mối tương quan giữa việc sử dụng các DVKT không thường xuyên đến lợi ích quản trị và từ đó tác động đến HQHĐ của các DNNVV. Các hàm ý được đưa ra nhằm tăng cường những lợi ích đạt được từ việc sử dụng các DVKT bên ngoài và đạt được những HQKD tốt hơn.

Từ khóa: dịch vụ kế toán, doanh nghiệp nhỏ và vừa, hiệu quả hoạt động

1.  Giới thiệu

Tại Việt Nam, dịch vụ kế toán (DVKT) là một lĩnh vực kinh doanh khá đặc thù khi các doanh nghiệp (DN) cung cấp dịch vụ phải có đầy đủ điều kiện, sự cho phép và phê chuẩn của cơ quan quản lý Nhà nước. Lý do là vì công việc này liên quan đến một số những vấn đề, yếu tố pháp lý buộc phải có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước, để đảm bảo DN hoàn thành nghĩa vụ và tuân thủ pháp luật Việt Nam. Theo Điều 55 của Luật Kế toán năm 2015 (được Quốc hội thông qua ngày 20/11/2015 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2017), các tổ chức và cá nhân đăng ký kinh doanh dịch vụ kế toán được phép cung cấp các dịch vụ như: thực hiện công việc kế toán, đảm nhiệm vị trí kế toán trưởng, thiết lập hệ thống kế toán cho đơn vị kế toán, cũng như cung cấp và tư vấn triển khai công nghệ thông tin trong lĩnh vực kế toán.

Khi mới thành lập, các doanh nghiệp thường gặp các vấn đề như xây dựng bộ máy kế toán, báo cáo thuế định kỳ, mở tài khoản ngân hàng, thông báo tài khoản ngân hàng và đăng ký chữ ký số. Sau một thời gian hoạt động, chi phí tiền lương trả cho một kế toán có kinh nghiệm làm việc cũng là một vấn đề cần bàn, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ. Bên cạnh đó, lao động kế toán cũng thường xuyên nhảy việc gây khó khăn và gián đoạn cho quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, việc sử dụng dịch vụ kế toán là một lựa chọn thông minh cho các doanh nghiệp nhỏ, giúp tối ưu chi phí mà vẫn duy trì hoạt động ổn định. Chính vì những lợi ích này, sự phát triển của dịch vụ kế toán trở thành một xu hướng tất yếu và phù hợp với nhu cầu hiện nay.

Hiệu quả hoạt động (HQHĐ) là một trong những nội dung được nghiên cứu khá nhiều, dù trong doanh nghiệp tư nhân hay nhà nước, trong đó bao gồm hai thành phần là hiệu quả  tài chính và phi tài chính (Tazilah, Majid, & Suffari, 2019). Hiện nay, DVKT thuê ngoài là một lựa chọn để các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) duy trì lợi thế cạnh tranh và trong môi trường cạnh tranh (Jayabalan và cộng sự, 2009; Kipsang & Mwangi, 2017). Các DNNVV cần được tư vấn và chuyên môn liên quan đến hoạt động kế toán để cải thiện hiệu quả  của mình (Husin & Ibrahim, 2014).

Tại Đà Nẵng, các DNNVV chiếm số lượng lớn và tập trung nhiều trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ, sản xuất công nghiệp (Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng, 2023). Khi tầm quan trọng và vai trò của các DNNVV trong tăng trưởng và phát triển kinh tế ngày càng tăng, các DNNVV tại Việt Nam nói chung và tại Đà Nẵng nói riêng cần phải giải quyết nhiều thách thức, trong đó có thách thức liên quan đến thực hiện đầy đủ các yêu cầu và chính sách pháp lý kế toán trong tình hình hiện nay. Đà Nẵng cũng là một thị trường đầy tiềm năng để các đơn vị cung cấp dịch vụ kế toán khai thác, qua đó thúc đẩy doanh số và gia tăng lợi nhuận.

Với các lý do nêu trên thì việc lựa chọn DVKT là vô cùng cần thiết và quan trọng cho các DNNVV nói chung và các DNNVV tại Đà Nẵng nói riêng, trong đó bao gồm cả việc ảnh hưởng đến HQHĐ của các DNVVV. Do vậy, đề tài “Nghiên cứu tác động của việc sử dụng các dịch vụ kế toán đến hiệu quả  hoạt động doanh nghệp – khảo sát tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” mang tính cấp thiết và quan trọng trong thời điểm hiện nay.

2. Khung khái niệm và giả thuyết nghiên cứu

2.1. Dịch vụ kế toán

Theo luật kế toán năm 2015 do Quốc Hội ban hành ngày 20 tháng 11 năm 2015 thì “Kinh doanh dịch vụ kế toán là việc cung cấp dịch vụ làm kế toán, làm kế toán trưởng, lập báo cáo tài chính, tư vấn kế toán và các công việc khác thuộc nội dung công tác kế toán theo quy định của Luật này cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu.”

DVKT thuê ngoài là một lựa chọn để các DNNVV duy trì lợi thế cạnh tranh và trong môi trường cạnh tranh (Jayabalan và cộng sự, 2009; Kipsang & Mwangi, 2017). Các DNNVV cần được tư vấn và chuyên môn liên quan đến thực hành kế toán để cải thiện hiệu quả của mình (Husin & Ibrahim, 2014). Dịch vụ thuê ngoài có thể mang lại lợi ích cho năng lực của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, giúp họ tiết kiệm chi phí hiệu quả  hơn (Agburu, Anza, & Iyortsuun, 2017; Rodriguez & Fierro, 2016), cải thiện khả năng phản ứng với những thay đổi của môi trường kinh doanh và giảm thiểu rủi ro do thay đổi công nghệ gây ra (Agburu và cộng sự, 2017). Vì những lý do này, dịch vụ kế toán thuê ngoài được sử dụng rộng rãi và người ta tin rằng những kế toán viên thuê ngoài này có thể là cố vấn chuyên nghiệp trong số các doanh nghiệp vừa và nhỏ (Blackburn, Carey, & Tanewski, 2018).

Việc thiết lập một hệ thống kế toán hiệu quả và tuân thủ pháp luật luôn là vấn đề được các chủ doanh nghiệp và nhà quản lý quan tâm. Một hệ thống kế toán phù hợp giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro bị cơ quan nhà nước thanh tra, đồng thời tránh nguy cơ phá sản hoặc giải thể. Ở các quốc gia phát triển, hầu hết doanh nghiệp lựa chọn sử dụng dịch vụ của các công ty kế toán độc lập để thực hiện các nghiệp vụ tài chính và kê khai thuế. Nhờ đó, doanh nghiệp không chỉ tối ưu hóa chi phí mà còn đảm bảo hệ thống kế toán chuyên nghiệp, chặt chẽ, tuân thủ quy định pháp luật và an toàn về trách nhiệm pháp lý.

Chính vì những lý do trên, sự xuất hiện của dịch vụ kế toán là một xu hướng tất yếu và phù hợp với nhu cầu thực tiễn. Tại Việt Nam, dịch vụ kế toán bắt đầu hình thành từ năm 1991 khi Bộ Tài chính thành lập hai công ty kiểm toán đầu tiên: Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO) và Công ty Dịch vụ Kế toán và Kiểm toán Việt Nam (AASC). Đặc biệt, khi Quốc hội ban hành Luật Kế toán vào năm 2003, dịch vụ kế toán chính thức được công nhận là một ngành nghề hợp pháp tại Việt Nam. Sau hơn 20 năm hoạt động thì ngành DVKT Việt Nam đã phát triển nhanh chóng về số lượng, quy mô của tổ chức dịch vụ, loại hình dịch vụ và không ngừng được cải thiện về chất lượng được thể hiện rõ nét như môi trường pháp lý về kế toán tương đối đầy đủ, rõ ràng, phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện Việt Nam. Sự ra đời của Hội nghề nghiệp đã ảnh hưởng sâu sắc đến thị trường DVKT (Mai Thị Hoàng Minh, 2010).

2.2 Hiệu quả hoạt động

Để vươn tới tầm cao và cạnh tranh trên toàn cầu, các DNNVV cần kế toán là nhà cung cấp dịch vụ tư vấn đáng tin cậy và hỗ trợ DN về tư vấn kinh doanh, tư vấn khẩn cấp, hỗ trợ quản lý tài chính và tư vấn theo luật định để cải thiện hiệu quả  hoạt động (Husin & Ibrahim, 2014).

Hiệu quả  hoạt động doanh nghiệp (firm performance) là một khái niệm phổ biến trong các nghiên cứu về quản trị doanh nghiệp, tài chính, kế toán và được nhìn nhận dưới nhiều chiều hướng, khía cạnh khác nhau trong thực tiễn (Võ Hồng Tâm, 2021).

Lebas và Euske (2006) còn đưa ra một tập hợp định nghĩa cho hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Theo đó: (1) Hiệu quả là một bộ các chỉ số tài chính và phi tài chính cung cấp thông tin về mức độ đạt được các mục tiêu và kết quả. (2) Hiệu quả là năng động, đòi hỏi sự phán đoán và giải thích. Hiệu quả  có thể được minh họa bằng cách sử dụng một mô hình nhân quả mô tả mức độ ảnh hưởng của hành động hiện tại đến kết quả trong tương lai. (3) Hiệu quả có thể được hiểu một cách khác nhau tùy thuộc vào người đánh giá hiệu quả  của tổ chức. (4) Định nghĩa khái niệm hiệu quả  phải hiểu được các đặc trưng cơ bản của mỗi vùng trách nhiệm.

Tóm lại, hiệu quả hoạt động được đánh giá thông qua các chỉ số tài chính và phi tài chính, cung cấp thông tin về mức độ đạt được mục tiêu và kết quả đề ra, đồng thời phản ánh lợi ích của các bên liên quan trong hoạt động của doanh nghiệp.

2.3 Mối quan hệ giữa việc sử dụng các dịch vụ kế toán và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Nghiên cứu của Cahyaningtyas & Ningtyas (2020) cho rằng nếu các DNNVV sử dụng các DVKT cho doanh nghiệp của mình, họ sẽ được hưởng lợi từ những lợi thế đi kèm và sẽ làm tăng hiệu quả hoạt động của DN đó. Các nghiên cứu trước đây đã thiết lập mối quan hệ giữa việc sử dụng các DVKT thường xuyên và không thường xuyên (tức là các nghiệp vụ được thực hiện hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng hay hàng năm) (Everaert và cộng sự, 2010; Kamyabi & Devi, 2011). Các DNNVV thường sử dụng các dịch vụ kế toán thường xuyên, chẳng hạn như hoàn thành tờ khai thuế, báo cáo và kiểm toán hàng tháng hoặc đánh giá độc lập, theo định kỳ hàng tháng hoặc hàng năm. Dựa trên các lập luận được trình bày, quan điểm được chấp nhận rộng rãi là các DNNVV chủ yếu thu được lợi ích về tuân thủ, nhưng rất ít lợi ích về quản lý, khi sử dụng các dịch vụ kế toán thường xuyên. Tuy nhiên, bằng chứng không phải là kết luận về các lợi ích thu được từ các dịch vụ kế toán như vậy. Do đó, đề tài nghiên cứu này sẽ kiểm tra các giả thuyết sau:

Giả thuyết H1: Việc sử dụng các DVKT thường xuyên sẽ làm tăng lợi ích về tuân thủ của các DNNVV tại Đà Nẵng

Giả thuyết H2: Việc sử dụng các DVKT thường xuyên sẽ làm tăng lợi ích về quản trị của các DNNVV tại Đà Nẵng

Giả thuyết H3: Việc sử dụng các DVKT không thường xuyên sẽ làm tăng lợi ích tuân thủ của các DNNVV tại Đà Nẵng

Giả thuyết H4: Việc sử dụng các DVKT không thường xuyên sẽ làm tăng lợi ích về quản trị của các DNNVV tại Đà Nẵng.

Vai trò của kế toán đã phát triển theo thời gian từ hình ảnh khuôn mẫu "người đếm tiền" và gắn liền với người giữ sổ sách đã trở thành một vai quan trọng (Jones & Abraham, 2007). Người ta cho rằng đã có sự thay đổi chung trong vai trò kế toán - từ việc chỉ cung cấp thông tin sang tạo điều kiện thông tin mở rộng (Burns & Scapens 2000) và điều này dẫn đến kỳ vọng rằng các DVKT sẽ dần chuyển thành dịch vụ tư vấn, cố vấn kinh doanh (Jones & Abraham, 2007). Theo đó, các loại hình DVKT này đã mở rộng phạm vi thành loại hình dịch vụ tư vấn, bao gồm các loại dịch vụ tư vấn khác nhau (Devi & Samujh 2010).

Những người ủng hộ quan điểm dựa trên nguồn lực (RBV) cho rằng nguồn lực của một DN là động lực cơ bản của cả hiệu quả và lợi thế cạnh tranh (Łobacz & Głodek 2015). Người ta cho rằng các DN nhỏ dễ bị tổn thương hơn các DN lớn hơn do thiếu các nguồn lực và khả năng cần thiết để tồn tại và tăng trưởng (Kellermanns và cộng sự, 2016). Do những khoảng cách nguồn lực đã đề cập này, các DNNVV thường buộc phải tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực bên ngoài để giảm chi phí và tạo ra lợi thế. Các DVKT bên ngoài được kỳ vọng sẽ liên tục phát triển về kiến thức và kỹ năng để duy trì hỗ trợ chuyên môn cho các DNNVV (Dyer & Ross, 2007). Theo Prauliņš và Bratka (2014), các DNNVV nên sử dụng một kế toán viên bên ngoài để được tư vấn trực tiếp liên quan đến hiệu quả. Lời khuyên này có thể bao gồm trợ giúp về cách tạo ra doanh thu cao hơn hoặc cách cải thiện kiểm soát quản lý, tuân thủ quy định, đánh giá hiệu suất, cơ cấu tài chính hoặc lập kế hoạch tài chính của doanh nghiệp. Tương tự như vậy, Han và Benson (2010) kết luận rằng sự hỗ trợ và tư vấn có giá trị đối với các chủ DN nhỏ để bù đắp cho việc thiếu vốn con người của họ và do đó tạo điều kiện khắc phục các vấn đề có thể xảy ra trong việc quản lý doanh nghiệp của họ. Bằng chứng nghiên cứu cho thấy rằng bằng cách tìm kiếm lời khuyên bên ngoài, các DNNVV có thể nâng cao khả năng học tập và năng lực của họ để ra quyết định trong tương lai (Sian & Roberts 2009). Do đó, các DVKT có thể cung cấp một loạt các năng lực có thể hỗ trợ các nguồn lực vô hình của các DNNVV (Barbera & Hasso, 2013; Kellermanns và cộng sự, 2016).

Dựa trên các lập luận được trình bày, quan điểm chung được chấp nhận là các DNNVV nhận được nhiều lợi ích về tuân thủ và về quản lý, do đó đề tài nghiên cứu kiểm tra các giả thuyết sau:

Giả thuyết H5: Việc sử dụng các dịch vụ tư vấn sẽ làm tăng lợi ích về tuân thủ của các DNNVV tại Đà Nẵng

Giả thuyết H6: Việc sử dụng các dịch vụ tư vấn sẽ làm tăng lợi ích về quản trị của các DNNVV tại Đà Nẵng

Các nghiên cứu do Bennett và Robson (2010) và Carey (2015) thực hiện đã đưa ra giả thuyết về mối quan hệ tích cực giữa việc tìm kiếm lời khuyên kinh doanh (dịch vụ tư vấn) và hiệu quả  tài chính. Tuy nhiên, những phát hiện của các nghiên cứu này còn lẫn lộn và chưa có kết luận, để lại chỗ cho việc điều tra sâu hơn về những lợi ích thu được từ các dịch vụ tư vấn và DVKT nói chung. Mặc dù đã có sự gia tăng trong các dịch vụ tư vấn do các kế toán viên cung cấp, các DNNVV vẫn chưa nhận thấy được tất cả các lợi ích cần thiết khi sử dụng (Blackburn và cộng sự, 2010; Ciccotosto, Nandan & Smorfitt, 2008; Marriott & Marriott, 2000). Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các các DNNVV còn hạn chế trong việc chủ động tìm kiếm DVKT và dịch vụ tư vấn (Blackburn & Jarvis, 2010:18,19; Nandan, 2010).

Nghiên cứu của Schizas và cộng sự (2012) về mối quan hệ giữa các DNNVV và chuyên gia tư vấn của họ, phát hiện ra rằng ở các nước phát triển như Canada, Ý và Vương quốc Anh, DVKT đóng vai trò quan trọng và có phạm vi chuyên môn rất rộng, bao gồm không chỉ các năng lực truyền thống (như quản lý tài chính hoặc thuế) mà còn cả các năng lực ít truyền thống hơn (như quy định, tư vấn và hoạt động khác). Thêm vào đó, nghiên cứu này còn phát hiện ra rằng ở các nền kinh tế mới nổi, cụ thể là ở Trung Quốc và Nam Phi, các DNNVV chủ yếu dựa vào các DVKT bên ngoài và các dịch vụ tư vấn kinh doanh. Do đó, ở Nam Phi, điều quan trọng là các DN cung cấp DVKT phải tập trung vào việc thúc đẩy các dịch vụ tư vấn cho khách hàng của mình và phải mang lại HQHĐ cho DN đó. Ngược lại với các dịch vụ kế toán truyền thống, các dịch vụ tư vấn được phân loại là các dịch vụ không thường xuyên, tức là chúng được cung cấp theo cơ sở tạm thời (Everaert và cộng sự, 2007). Do đó, tần suất các DNNVV cung cấp các loại dịch vụ này có thể ảnh hưởng đến các lợi ích thu được.

Các nghiên cứu đã kết luận rằng những lợi ích nhận được từ DVKT, bao gồm cả những dịch vụ tư vấn có liên quan đáng kể đến HQHĐ của DN. Do đó, dựa trên lý thuyết nguồn lực và các nghiên cứu trước đó, đề tài nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng hiệu quả  của các DNNVV tại Đà Nẵng liên quan đến việc nhận được các lợi ích về tuân thủ và lợi ích về quản trị khi sử dụng trực tiếp DVKT và các dịch vụ tư vấn:

Giả thuyết H7: Việc nhận được lợi ích về tuân thủ khi sử dụng các DVKT sẽ làm tăng HQHĐ của các DNNVV tại Đà Nẵng

Giả thuyết H8: Việc nhận được lợi ích về quản trị khi sử dụng các DVKT sẽ làm tăng HQHĐ của các DNNVV tại Đà Nẵng

 

(H8)

 

(H7)

 

Dịch vụ kế toán thường xuyên

(RAS)

Dịch vụ kế toán không thường xuyên

(NAS)

Lợi ích về  tuân thủ

(COM)

Lợi ích về quản trị

(MAN)

(H1)

 

(H2)

 

(H3)

 

(H4)

 

(H5)

 

(H6)

 

Dịch vụ tư vấn (ADS)

Hiệu quả  hoạt động (PER)


Dựa trên các nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam đã được nêu về việc sử dụng DVKT, các lợi ích khi sử dụng DVKT và tác động của việc sử dụng DVKT đến HQHĐ của các DN. Tác giả lựa chọn mô hình ứng dụng kết hợp các mô hình lý thuyết trên là cơ sở của nghiên cứu. Trong đó, mô hình nghiên cứu gồm 2 phần: (1) Tác động của việc sử dụng các DVKT đến các lợi ích đạt được. (2) Các lợi ích đạt được sẽ tác động đến HQHĐ của các DNNVV tại Đà Nẵng. Từ những nghiên cứu trớc đây, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu dự kiến.

 

Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất

 Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất

3. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp tiếp cận hỗn hợp bao gồm nghiên cứu định tính và định lượng. Trong giai đoạn đầu, các cuộc phỏng vấn chuyên gia được tiến hành với mục đích tinh chỉnh các thang đo có được từ việc tổng hợp tài liệu. Giai đoạn tiếp theo của nghiên cứu bao gồm khảo sát từ bảng câu hỏi đã phát cho các đối tượng. Các giai đoạn cuối cùng của quá trình nghiên cứu bao gồm việc áp dụng mô hình phương trình cấu trúc bình phương tối thiểu riêng phần (PLS-SEM) để kiểm tra mô hình giả thuyết trong việc đáp ứng mục tiêu chung của nghiên cứu này. Mô hình PLS- SEM bao gồm cả việc đánh giá mô hình đo lường và mô hình cấu trúc.

4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Nghiên cứu sử dụng PLS-SEM để kiểm định các khuôn khổ khái niệm. PLS-SEM được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu khoa học xã hội vì nó phù hợp với dữ liệu không theo quy ước và cho phép các kích thước mẫu nhỏ và sâu (Hair và cộng sự, 2021). Chúng tôi áp dụng phần mềm Smart PLS 4.0 để phân tích dữ liệu chính, với quy trình PLS-SEM để điều tra và đánh giá mối quan hệ của các cấu trúc (Hair và cộng sự, 2021).

4.1 Đánh giá mô hình đo lường

Hair và cộng sự (2019) gợi ý cần đánh giá giá trị hội tụ và phân biệt của mô hình đo lường. Khi đánh giá giá trị hội tụ, chúng tôi dựa vào kết quả của Cronbach’s Alpha, Pa (Dijkstra – Henseler’s rho), độ tin cậy tổng hợp (Pc), tải trọng chỉ báo và giá trị phương sai trung bình trích xuất (AVE) cho các biện pháp nhất quán nội bộ của mô hình. Quan sát kết quả trong Bảng 3 và Hình 2 cho thấy độ tin cậy nhất quán nội bộ trên 0,70 và nhỏ hơn 0,95 (Hair và cộng sự, 2022).

Bảng 3. Tóm tắt kết quả của các hệ số trong mô hình PLS-SEM

Cấu trúc

Chỉ số

Hệ số tải ngoài

(>0.7)

Cronbach’s

Alpha

(>0.7)

Độ tin cậy tổng hợp (CR)

(>0.7)

AVE

(>0.5)

 

Pa

 

Pc

Các DVKT thường xuyên

RAS1

0.816

0.798

0.868

0.623

0.8

0.868

RAS2

0.786

RAS3

0.765

RAS4

0.789

Các DVKT không thường xuyên

NAS1

0.809

0.789

0.862

0.611

0.8

0.862

NAS2

0.787

NAS3

0.72

NAS4

0.807

Các dịch vụ tư vấn

ADS1

0.786

0.806

0.873

0.632

0.806

0.873

ADS2

0.791

ADS3

0.793

ADS4

0.811

Lợi ích về tuân thủ

COM1

0.86

0.841

0.849

0.678

0.846

0.894

COM2

0.793

COM3

0.858

COM4

0.78

Lợi ích về quản trị

MAN2

0.818

0.778

0.871

0.692

0.779

0.871

MAN3

0.849

MAN4

0.829

Hiệu quả hoạt động

PER1

0.811

0.861

0.906

0.706

0.862

0.906

PER2

0.836

PER3

0.866

PER4

0.846

Bảng 4. Độ tin cậy phân biệt (HTMT và tiêu chuẩn Fornell–Larcker)

 

ADS

COM

MAN

NAS

PER

RAS

Heterotrait-monotrait ratio (HTMT)

ADS

 

 

 

 

 

 

COM

0.637

 

 

 

 

 

MAN

0.681

0.716

 

 

 

 

NAS

0.442

0.758

0.402

 

 

 

PER

0.661

0.824

0.767

0.592

 

 

RAS

0.536

0.826

0.566

0.528

0.636

 

Fornell-Larcker criterion

ADS

0.795

 

 

 

 

 

COM

0.525

0.823

 

 

 

 

MAN

0.54

0.581

0.832

 

 

 

NAS

0.354

0.625

0.323

0.781

 

 

PER

0.551

0.703

0.629

0.488

0.84

 

RAS

0.431

0.677

0.449

0.424

0.525

0.789

Ghi chú: Căn bậc hai của đường chéo AVE lớn hơn các tương quan (ngoài đường chéo) đối với các cấu trúc phản chiếu để đáp ứng tiêu chuẩn Fornell–Larcker; khoảng tin cậy dưới hoặc trên không được bao gồm giá trị 1 để vượt qua HTMT (Kline, 2011)

Hình 2. Mô hình đo lường hiển thị tải chỉ số và phương sai trung bình được trích xuất (AVE)

 

Kết luận: Từ các kết quả phân tích ở trên cho thấy rằng thang đo được sử dụng trong mô hình nghiên cứu đã đạt được độ tin cậy và tính giá trị rất tốt. Bên cạnh đó, hiện tượng đa cộng tuyến không xuất hiện.  Do đó, các thang đo này sẽ được sử dụng để phân tích trong mô hình cấu trúc.

4.2 Đánh giá mô hình cấu trúc

Việc đánh giá hệ số đường dẫn mô hình cấu trúc của mô hình được thực hiện bằng phương pháp bootstrapping. Theo Hair và cộng sự (2021) bootstrap là một kỹ thuật lấy mẫu lặp lại để ước tính lỗi tiêu chuẩn mà không cần chuyển tiếp các giả định phân phối. Kết quả bootstrap gần đúng với tính chuẩn của dữ liệu.

Nghiên cứu áp dụng thủ tục bootstrap phi tham số cho các quan sát, thực hiện lặp lại 5000 lần nhằm đảm bảo yêu cầu kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính, với kết quả được trình bày trong Hình 3. Đồng thời, dữ liệu tổng hợp trong Bảng 5 và Bảng 6 cho thấy khoảng tin cậy được xác định từ phương pháp bootstrap (khoảng tin cậy bootstrap) của các tác động, được lấy từ thẻ Confidence Intervals, đều không chứa giá trị 0.

Bảng 5. Kết quả từ PLS-SEM

 

Original sample (O)

Sample mean (M)

Standar  deviation

(STDEV)

T statistics (|O/STDEV|)

P

values

ADS -> COM

0.209

0.21

0.038

5.44

0.000

ADS -> MAN

0.41

0.411

0.042

9.694

0.000

COM -> PER

0.509

0.508

0.035

14.415

0.000

MAN -> PER

0.333

0.334

0.039

8.466

0.000

NAS -> COM

0.368

0.368

0.031

11.945

0.000

NAS -> MAN

0.076

0.075

0.049

1.532

0.126

RAS -> COM

0.432

0.431

0.034

12.725

0.000

RAS -> MAN

0.24

0.241

0.048

4.975

0.000

(Nguồn: Kết quả từ phần mềm SMART PLS 4)

Bảng 6. Kết quả kiểm định các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu

Giả thuyết

Mối quan hệ

Hệ số đường dẫn β

Độ lệch chuẩn

Giá trị

t

P-value

(<0.05)

Kết quả

H1

RAS → COM

0.432

0.034

12.725

0.000

Chấp nhận

H2

RAS → MAN

0.240

0.048

4.975

0.000

Chấp nhận

H3

NAS → COM

0.368

0.031

11.945

0.000

Chấp nhận

H4

NAS → MAN

0.076

0.049

1.532

0.126

Bác bỏ

H5

ADS → COM

0.209

0.038

5.44

0.000

Chấp nhận

H6

ADS → MAN

0.410

0.042

9.694

0.000

Chấp nhận

H7

COM → PER

0.509

0.035

14.415

0.000

Chấp nhận

H8

MAN → PER

0.333

0.039

8.466

0.000

Chấp nhận

(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ phần mềm SMART PLS 4)

Hình 3. Mô hình cấu trúc hiển thị hệ số đường dẫn và giá trị p

 

4.2 Thảo luận kết quả

Mục tiêu của nghiên cứu là xem xét tác động của việc sử dụng các loại hình DVKT đến HQHĐ của các DNNVV trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, từ đó đưa ra các hàm ý quản trị giúp các DNNVV tại Đà Nẵng có thể sử dụng các DVKT phù hợp, thường xuyên hơn hơn và đạt HQHĐ tốt hơn. 

Kết quả kiểm định cho thấy giả thuyết H1 được chấp nhận (β = 0.432, t = 12.725 và p = 0.000 < 0.05), H2 được chấp nhận (β = 0.240, t = 4.975 và p = 0.000 < 0.05), chứng tỏ rằng Việc sử dụng các DVKT thường xuyên có tác động tích cực đến Lợi ích tuân thủ và Lợi ích quản trị. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu trước đây của Oosthuizen và cộng sự (2020), Ngô Thanh Hạnh (2022), Rezazade và cộng sự (2023).

Kết quả kiểm định cho thấy giả thuyết H3 được chấp nhận (β = 0.368, t = 11.945 và p = 0.000 < 0.05), ), chứng tỏ rằng Việc sử dụng các DVKT không thường xuyên có tác động tích cực đến Lợi ích tuân thủ. Tuy nhiên, giả thuyết H4 không được chấp nhận (β = 0.076, t = 1.532 và p = 0.126 > 0.05), chứng tỏ rằng Việc sử dụng các DVKT không thường xuyên không có tác động tích cực đến Lợi ích quản trị. Vì vậy giả thuyết H4 bị bác bỏ. Điều này cho thấy, với sự đa dạng của nhiều loại hình DVKT hiện nay, không chỉ là các DVKT thường xuyên, trọn gói mà còn có các DVKT không thường xuyên khác, như nộp tờ khai thuế GTGT, thuế thu nhập DN, lập BCTC cuối năm, tư vấn thuế, quyết toán thuế…Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Carey (2008), Oosthuizen và cộng sự (2020), Alfartoos & Jusoh (2021), Nguyễn Diên Duẩn & Trần Ngọc Hùng (2024).

Kết quả kiểm định cho thấy giả thuyết H5 được chấp nhận (β = 0.209, t = 5.44 và p = 0.000 < 0.05), giả thuyết H6 được chấp nhận (β = 0.410, t = 9.694 và p = 0.000 < 0.05), chứng tỏ rằng Việc sử dụng các dịch vụ tư vấn có tác động tích cực đến Lợi ích tuân thủ và Lợi ích quản trị. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu trước đây của Devi & Samujh (2010), Schizas và cộng sự (2012), Oosthuizen và cộng sự (2020), Nguyễn Diên Duẩn & Trần Ngọc Hùng (2024). Cũng theo Bennett và Robson (2000), các dịch vụ tư vấn được cung cấp cho cho các DNNVV có liên quan chặt chẽ đến các mục tiêu, mục đích và quyết định chiến lược của doanh nghiệp và thường không bao gồm việc cung cấp thông tin cơ bản.

Kết quả kiểm định cho thấy giả thuyết H7 được chấp nhận (β = 0.509, t = 14.415 và p = 0.000 < 0.05), giả thuyết H8 được chấp nhận (β = 0.333, t = 8.466 và p = 0.000 < 0.05), chứng tỏ rằng Việc đạt được các lợi ích về tuân thủ và các lợi ích về quản trị có tác động tích cực đến Hiệu quả hoạt động của các DNNVV tại Đà Nẵng. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu trước đây của Kamyabi & Devi (2011b, 2011c), Husin & Ibrahim (2014), Carey (2015), Kipsang & Mwangi (2017), Cahyaningtyas & Ningtyas (2020), Rezazade và cộng sự (2023). Các nghiên cứu trước đây cũng chỉ ra rằng DVKT bên ngoài (dịch vụ không phải kiểm toán) đã trở thành lựa chọn đầu tiên của các DNNVV để cải thiện hiệu quả kinh doanh và duy trì hoạt động kinh doanh của họ trong thời gian dài (Ganesan và  cộng sự, 2018).

Kết quả từ nghiên cứu cũng dẫn tới một thực tế rằng việc sử dụng các DVKT và đạt được các lợi ích sẽ có lợi cho HQHĐ của các DNNVV tại Đà Nẵng. Phát hiện của nghiên cứu này sẽ hỗ trợ các DNNVV xác định các khoảng cách về nguồn lực và lý do chuyển sang các dịch vụ kế toán bên ngoài để thu hẹp khoảng cách và cải thiện hiệu quả tài chính của chính DN đó.

5. Kết luận và hàm ý quản trị

5.1 Kết luận

Nghiên cứu đã xác định được mức độ sử dụng DVKT trong các DNNVV trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, các lợi ích đạt được về tính tuân thủ và tính quản trị khi sử dụng DVKT và từ đó tác động đến HQHĐ của các DN. Kết quả nghiên cứu đã đáp ứng được 3 mục tiêu chi tiết của đề tài. Đối với mục tiêu thứ nhất, nghiên cứu đã xác định và đo lường các loại hình DVKT hiện nay (dịch vụ thường xuyên, không thường xuyên, dịch vụ tư vấn) mà các DNNVV tại Đà Nẵng sử dụng.  Đối với mục tiêu thứ 2, nghiên cứu đã xác định và đo lường những lợi ích cơ bản khi các DNNVV tại Đà Nẵng sử dụng các DVKT (lợi ích tuân thủ và lợi ích quản trị). Đối với mục tiêu thứ 3, nghiên cứu đã đưa ra được kết quả đo lường tác động của việc sử dụng các loại hình DVKT đến HQHĐ thông qua những lợi ích mà các DNNVV tại Đà Nẵng đạt được. Cụ thể là việc sử dụng các DVKT đều có tác động tích cực đến việc đạt được các lợi ích về tuân thủ và quản trị, trừ việc sử dụng các DVKT không thường xuyên sẽ không có tác động đến lợi ích quản trị của DN – H4 bị bác bỏ.

5.2 Hàm ý quản trị

Dựa trên kết quả, một số hàm ý quản trị dành cho các chủ các DNNVV đang sử dụng các DVKT cũng như các DN cung cấp DVKT được khuyến nghị thông qua các nhận định, cách thức và phương pháp được đưa ra, cũng như các vấn đề rộng hơn về phát hiện DVKT hiện nay.

Một là, về những lợi ích đạt được (tuân thủ và quản trị) khi sử dụng các DVKT của các DNNVV tại Đà Nẵng. Theo góc độ thực tế, các DNNVV cần các loại DVKT để khắc phục bất kỳ sự thiếu hụt nội bộ nào về kỹ năng tài chính và quản lý, nghiên cứu này gợi ý các cách để chủ các DNNVV đảm bảo các lợi ích cần thiết cho sự tồn tại và tăng trưởng trong tương lai của DN. Đặc biệt, kết quả nghiên cứu cho thấy các DNNVV tại Đà Nẵng thường xuyên sử dụng DVKT thường xuyên (như kế toán và ghi sổ hàng tháng) và nhận thấy mối quan hệ này không chỉ mang lại lợi ích đáng kể về tuân thủ mà còn mang lại lợi ích đáng kể về quản lý.

Hai là, về quan điểm phát triển thị trường DVKT: Dịch vụ kế toán đang trở thành một lĩnh vực kinh tế quan trọng, góp phần đáng kể vào hoạt động thương mại trong nước và quốc tế. Để nâng cao sự phát triển của ngành trong thời gian tới, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp như: tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống pháp luật về kế toán; mở rộng số lượng doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kế toán một cách hợp lý; nâng cao trình độ chuyên môn của kế toán viên thông qua đào tạo và cập nhật kiến thức thường xuyên; đồng thời thúc đẩy hợp tác quốc tế nhằm mở rộng và phát triển thị trường dịch vụ kế toán. Sự phát triển của thị trường DVKT tác động đến tính minh bạch, trung thực của thông tin tài chính và tính hiệu quả, an toàn của phân bổ các nguồn lực tài chính. Vì vậy, yêu cầu minh bạch, trung thực, chất lượng là tiêu chí hàng đầu.

Ba là, về hiệu quả kinh doanh mà các DNNVV tại Đà Nẵng đạt được khi sử dụng các DVKT. Việc sử dụng các DVKT thường xuyên và cả không thường xuyên sẽ mang đến HQKD cho DN. Điều quan trọng đối với các DNNVV tại Đà Nẵng lúc này là tìm được các DVKT phù hợp từ các DN cung cấp dịch vụ. Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng ủng hộ quan điểm cho rằng các DNNVV thường xuyên tìm kiếm dịch vụ tư vấn từ chuyên gia kế toán bên ngoài sẽ có được mức lợi ích quản lý cao hơn. Do đó, tác giả khuyến nghị rằng các DNNVV nên thường xuyên sử dụng các DNVT làm nguồn tư vấn kinh doanh.

Bốn là, về khuôn khổ pháp lý đối với các hoạt động cung cấp DVKT. Cần nâng cao hiệu quả quản lý thị trường DVKT. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp lý về dịch vụ kế toán theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện thực tiễn tại Việt Nam. Đồng thời, cần nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát của cơ quan Nhà nước đối với các đơn vị cung cấp dịch vụ kế toán trên thị trường, cũng như đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này. Ngoài ra, các tổ chức nghề nghiệp kế toán và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kế toán cần tích cực phối hợp, đóng góp ý kiến với Bộ Tài chính trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực kế toán.

Tóm lại, hàm ý quản trị trong bài là khởi nguồn để các nhà lãnh đạo quản lý có thể sử dụng các DVKT một cách phù hợp và khai thác HQHK một cách tốt nhất. DVKT đóng vai trò quan trọng trong hội nhập và phát triển không chỉ với Đà Nẵng, Việt Nam mà còn cả các nước trên toàn thế giới. Do vậy, các DNNVV cần cân nhắc để sử dụng các DVKT một cách hợp lý nhằm mang lại những lợi ích và hiệu quả tối đa. Điều này đòi hỏi các DN cung cấp DVKT cần nâng cao chất lượng dịch vụ, giảm thiểu các rủi ro để tăng sự tin cậy về tính bảo mật, tính trách nhiệm, hiệu quả dịch vụ,... để khách hàng yên tâm lựa chọn, sử dụng dịch vụ kế toán, thuế; cũng như Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan cần hoàn thiện hệ thống pháp lý và các chính sách để tạo thuận lợi cho các DN cung cấp DVKT phát triển một cách tốt nhất.

6. Tài liệu tham khảo

Agburu, J. I., Anza, N. C., & Iyortsuun, A. S. (2017). Effect of outsourcing strategies on the performance of small and medium scale enterprises (SMEs). Journal of Global Entrepreneurship Research7, 1-34.

Alfartoosi, A., & Jusoh, M. A. (2021). A Conceptual Model of E-accounting: Mediating effect of Internal Control System on the Relationship Between E-accounting and the Performance in the Small and Medium Enterprises. International Journal of Economics and Management Systems6(1), 228-252.

Blackburn, R., Carey, P., & Tanewski, G. (2018). Business advice by accountants to SMEs: relationships and trust. Qualitative Research in Accounting & Management15(3), 358-384.

Blackburn, R., Tanewski, G., & Carey, P. (2010). Advice seeking strategies: entrepreneurs' and accountants' perspectives.

Cahyaningtyas, F., & Ningtyas, M. N. (2020). The use of outsourced accounting service and its impact on SMEs performance. JABE (Journal of Accounting and Business Education)4(2), 79-97.

Carey, P. J. (2008). The benefits of services provided by external accountants to small and medium sized enterprises. Unpublished PhD Thesis, Australian School of Business, University of New South Wales, Australia.

Goodhue, D. L., Lewis, W., & Thompson, R. (2012). Does PLS have advantages for small sample size or non-normal data?. MIS quarterly, 981-1001.

Hafeez, A. (2013). An empirical investigation of factors influencing management accounting outsourcing practics among SMEs in Pakistan and the effect of outsourcing on firm´ s performance (Master's thesis, Universitetet i Agder; University of Agder).

Hair Jr, J. F., Hult, G. T. M., Ringle, C. M., Sarstedt, M., Danks, N. P., & Ray, S. (2021). Partial least squares structural equation modeling (PLS-SEM) using R: A workbook (p. 197). Springer Nature.

Hair, J. F., Risher, J. J., Sarstedt, M., & Ringle, C. M. (2019). When to use and how to report the results of PLS-SEM. European business review31(1), 2-24.

Han, L., & Benson, A. (2010). The use and usefulness of financial assistance to UK SMEs. Environment and Planning C: Government and Policy28(3), 552-566.

Husin, M. A., & Ibrahim, M. D. (2014). The role of accounting services and impact on small medium enterprises (SMEs) performance in manufacturing sector from East Coast Region of Malaysia: A conceptual paper. Procedia-Social and Behavioral Sciences115, 54-67.

Jayabalan, J., Raman, M., Dorasamy, M., & Ching, N. K. C. (2009). Outsourcing of accounting functions amongst SME companies in Malaysia: An exploratory study. Accountancy Business and the Public Interest8(2), 96-114.

Jones, G., & Abraham, A. (2007). Education implications of the changing role of accountants: Perceptions of practitioners, academics and students.

Kamyabi, Y., & Devi, S. (2011a). An Empirical Investigation of Accounting Outsourcing in Iranian SMEs: Transaction Cost Economics and Resource-Based Views. International Journal of Business and Management, 6(3), 81–94.

Kamyabi, Y., & Devi, S. (2011b). The impact of accounting outsourcing on Iranian SME performance: Transaction cost economics and resource-based perspectives. World Applied Sciences Journal15(2), 244-252.

Łobacz, K., & Głodek, P. (2015). Development of competitive advantage of small innovative firm–How to model business advice influence within the process?. Procedia Economics and Finance23, 487-494.

Mai Thị Hoàng Minh. (2010). Kế toán và DVKT Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Đề tài Nghiên cứu Khoa học cấp Bộ. Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.

Marcoulides, G. A., & Saunders, C. (2006). Editor's comments: PLS: a silver bullet?. MIS quarterly, iii-ix.

Marriott, N., & Marriott, P. (2000). Professional accountants and the development of a management accounting service for the small firm: barriers and possibilities. Management accounting research11(4), 475-492.

Ngô Thanh Hạnh. (2022). Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng dịch vụ kế toán, thuế của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Công Thương, 12(5), 148-253.

Nguyễn Diên Duẩn, Trần Ngọc Hùng. (2024). Sử dụng dịch vụ kế toán trực tuyến tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa – nghiên cứu thực nghiệm tại các tỉnh phía Nam. Tạp chí Kinh tế và Phát triển. 321(2), 90-99.

Oosthuizen, A., Van Vuuren, J., & Botha, M. (2020). Compliance or management: The benefits that small business owners gain from frequently sourcing accounting services. The Southern African Journal of Entrepreneurship and Small Business Management12(1).

Rezazade, F., Minutillo, S., & Patel, N. (2023). Accounting outsourcing and its relationship with financial performance of SMEs: Manager and employee perspectives. South African Journal of Accounting Research37(2), 106-121.

Robson, P. J., & Bennett, R. J. (2010). Paying fees for government business advice: an assessment of Business Link experience. Applied Economics42(1), 37-48.

Schizas, E., Jarvis, R., & Daskalakis, N. (2012). SMEs and their advisers: Measuring trust and confidence. ACCA Research Report no127.

Sian, S., & Roberts, C. (2009). UK small owner‐managed businesses: accounting and financial reporting needs. Journal of small business and enterprise development16(2), 289-305.