(+84) 236.3827111 ex. 402

Bài viết - ThS. Lê Thị Huyền Trâm - TÁC ĐỘNG VỀ MẶT XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ


 

TÁC ĐỘNG VỀ MẶT XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ

                                                                   Th.S Lê Thị Huyền Trâm

            Tác động về mặt xã hội và môi trường của dự án đầu tư là quan trọng, nó giúp đánh giá được sự đóng góp của dự án vào việc thực hiện mục tiêu phân phối và xác định được những tác động của dự án đến quá trình điều tiết thu nhập theo nhóm dân cư và theo vùng lãnh thổ. Thực chất của chỉ tiêu này là xem xét xem phần giá trị gia tăng của dự án và các dự án liên đới (nếu có) sẽ được phan phối cho các nhóm đối tượng khác nhau (bao gồm người làm công ăn lương, người hưởng lợi nhuận, nhà nước) hoặc giữa các vùng lãnh thổ như thế nào, có đáp ứng được mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn nhất định hay không.

Từ khóa: dự án, khía cạnh, đầu tư               

1. Tác động đến phân phối thu nhập và công bằng xã hội :

       Để đánh giá chỉ tiêu này, phải thực hiện theo quy trình sau :

       Bước 1: Xác định nhóm dân cư hoặc vùng lãnh thổ (i) được phân phối giá trị gia tăng thêm (NNVA) của dự án.

       Bước 2 : Tiếp đến xác định phàn giá trị tăng thêm do dự án tạo ra mà nhóm dân cư hoặc vùng lãnh thổ nhận được (NNVAi)

       Bước 3 : Tính tỷ lệ giá trị gia tăng của mỗi nhóm dân cư hoặc mỗi vùng lãnh thổ thu được trong tổng giá trị gia tăng ở năm hoạt động bình thường của dự án (BDi) theo công thức như sau:

Trong đó :

       NNVAi là phần giá trị gia tăng mà nhóm dân cư hay vùng lãnh thổ I nhận được nhờ thực hiện dự án (đối với nhóm những người làm công ăn lương thì đó là tiền lương và trợ cấp hằng năm; đối với nhóm những người hưởng lợi nhuận đó là cổ tức hay tiền lãi vay; đối với nhà nước thì đó là tiền thuế phải nộp, cổ tức từ cổ phần của nhà nước, lãi vay trả cho các khoản vay của nhà nước…).

       NNVA là tổng giá trị gia tăng sản phẩm quốc gia thuần túy của dự án và các dự án liên đới (nếu có)

       BDi là tỷ lệ phân phối thu nhập cho nhóm dân cư hoặc vùng lãnh thổ i

       Sau khi tính được tỷ lệ BD cho các nhóm dân cư và vùng lãnh thổ, tiến hành so sánh tỷ lệ này của nhóm dân cư hoặc vùng lãnh thổ với nhau sẽ thấy được tình hình phân phối giá trị gia tăng do dự án tạo ra giữa các nhóm dân cư và vùng lãnh thổ trong nước. Việc đánh giá các chỉ tiêu này phụ thuộc vào chính sách kinh tế xã hội trong từng gia đoạn nhất định.

2.Tác động đến lao động và việc làm

       Các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng đều trong tình trạng yếu kém về mặt kỹ thuật sản xuất và công nghệ nhưng lại thừa nhân công. Chính vì vậy chỉ tiêu gia tăng công ăn việc làm cũng là một chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá các dự án đầu tư. Để đánh gisatacs động của dự án đến lao động và việc làm có thể xem xét cả các chỉ tiêu tuyệt đối và các chỉ tiêu tương đối đó là : Chỉ tiêu số lao động có việc làm do thực hiện dự án và chỉ tiêu số lao động có việc làm tính trên 1 đơn vị giá trị vốn đầu tư.

* Số lao động có việc làm

       Bao gồm số lao động có việc làm trực tiếp cho dự án và số lao động có việc làm ở các dự án liên đới (số lao động có việc làm gián tiếp). Các dự án liên đới là các dự án khác được thực hiện do sự đòi hỏi của dự án đang được em xét.

       Trình tự xác định số lao động (trực tiếp và gián tiếp) có việc làm do thực hiện dự án như sau :

       Bước 1: Xác định số lao động cần thiết cho dự án đang xem xét tại năm hoạt động bình thường của đời dự án6 .

       Bước 2: Xác định số lao động cần thiết cho việc tăng thêm ở các dự án liên đới cả về đầu vào và đầu ra. Đây chính là số lao động có việc làm gián tiếp nhờ thực hiện dự án đang xem xét.

       Bước 3: Tổng hợp số lao động trực tiếp và gián tiếp có việc làm trên đây là chính là tổng lao động có việc làm nhờ thực hiện dự án.

       Trong khi tạo việc làm cho một số lao động, thì sự hoạt động của dự án mới cũng có thể làm cho một số lao động của các cơ sowrsanr xuất kinh doanh dịch vụ khác bị mất việc do các cơ sở nayfg không cạnh tranh nổi với sản phẩm của dự án mới, phải thu hẹp sản xuất. Trong số các lao động làm việc trong dự án, có thể có một số là người nước ngoài. Do đó số lao động của đất nước có việc làm nhờ thực hiện dự án sẽ chỉ bao gồm số lao động trực tiếp và gián tiếp phục vụ cho dự án trừ đi số lao động bị mất việc ở các cơ sở có liên quan và số người nước ngoài làm việc cho dự án.

       Đối với dự án Quất Lâm, số người lao động là 200 người/năm. Phần lớn sử dụng lao động tại địa phương.

* Số lao động có việc làm trên một đơn vị vốn đầu tư 

       Để tính chỉ tiêu số lao động có việc làm trên 1 đơn vị giá trị vốn đầu tư, cũng tương tự như đối với lao động, ta phải tính số vốn đầu tư trực tiếp của dự đang xem xét và vốn đầu tư của các dự án liên đới (vốn đầu tư đầy đủ). Tiếp đó tính các chỉ tiêu sau đây:

  • Số lao động có việc làm trực tiếp tính trên một đon vị giá trị vốn đầu tư trực tiếp (Id) :

Id = Ld/Ivd

Trong đó : Ld – số lao động có việc làm trực tiếp của dự án, Lvd – số vốn đầu tư trực tiếp của dự án

  • Toàn bộ số lao động có việc làm tính trên một đơn vị giá trị vốn đầu tư đầy đủ (IT)

IT = LT/IvT

Trong đó : LT – Toàn bộ số lao động có việc làm trực tiếp và  gián tiếp (LT = Ld + Lind); IvT là số vốn đầu tư đầy đủ của dự án đang xem xét các dự án liên đới (IvT = Lvd + Ivind); Lind – Là số lao động có việc làm gián tiếp; Ivind – Là số vốn đầu tư gián tiếp.

       Nói chung tiêu chuẩn đánh giá là các chỉ tiêu này có giá trị càng cao thì dự án càng có tác dụng lớn đến nền kinh tế và xã hội.

3.Tác động đến môi trường sinh thái

       Việc thực hiện một dự án thường có những động tác nhất định đến môi trường sinh thái. Các tác động này có thể là tích cực, nhưng cũng có thể là tiêu cực. Tác động tích cực có thể là làm đẹp cảnh quan môi trường, cải thiện điều kiện sống, sinh hoạt cho dân cư địa phương, … Các tác động tiêu cực bao gồm việc ô nhiễm nguồn nước, không khí, đất đai, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và súc vật trong khu vực. Vì vậy, trong phân tích của dự án các tác động về môi trường đặc biệt là tác động tiêu cực phải được quan tâm thỏa đáng.

       Có nhiều phương pháp đánh giá tác động đến môi trường của một dự án đầu tư : Phương pháp phân tích lợi - ích  chi phí, phương pháp sơ đồ mạng lưới phương pháp ma trận hay phương pháp danh mục các điều kiện môi trường v.v… Nhưng phương pháp phân tích đễ hiểu và mang tính tổng hợp cao có lẻ được thể hiện ở công thức sau:

Trong đó :

       Bt là lợi ích từ dự án mà chưa tính đến yếu tố môi trường tại năm t

       Ci là chi phí của dự án mà chưa tính đến yếu tố môi trường năm t

       EBt là giá trị các ngoại ứng tích cực đến môi trường năm t

       ECt là giá trị các ngoại ứng tiêu cực đến môi trường năm t

       n là vòng đời sản xuất của dự án

       N là vòng đời dài hạn của dự án          với các tác động kéo dài tới môi trường, N được giả thiết là kéo dài tới vô cùng.

       Thường là rất khó khăn khi đánh giá định lượng các ảnh hưởng về mặt môi trường của một dự án đầu tư. Tuy nhiên, việc đánh giá này là rất cần thiết và nên đánh giá chúng càng chính xác càng tốt hoặc về mặt giá trị hoặc về mặt định lượng phi tiền tệ. Nếu như không định lượng được theo hai tiêu chuẩn trên thì có thể đánh giá định lượng.

       Trong trường hợp không có giá thị trường để đánh giá các tác động đến môi trường thì việc tham khảo các trường hợp tương tự hay ước tính gián tiếp sẽ được sử dụng để tính giá trị theo logic. Các chi phí này có thể là lượng tiền đền bù hay trợ cấp mà mỗi cá nhân có thể chấp nhận được để chịu đựng các tác động tiêu cực mà dự án gây nên hay chi phí tối thiểu để bảo tồn, duy trì chất lượng môi trường ở trạng thái ban đầu. Các khoản lợi ích cũng có thể lượng hóa theo cách tương tự. So sánh giữa lợi ích và chi phí thu được chúng ta có thể đánh giá được ảnh hưởng thuần túy của dự án đến môi trường, tuy nhiên các đánh giá này chỉ mang tính tương đối và có thể thay đổi đối với từng dự án trong các điều kiện khác nhau.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Huỳnh Lợi, (2010), Giáo trình kế toán quản trị, NXB Thống kê, Hà Nội

2. Võ Ngàn Thơ (2009), Quản trị dự án đầu tư, NXB TP HCM, Hà Nội

3. Nguyễn Tấn Bình (2010), Quản trị tài chính ngắn hạn, Nhà xuất bản Thống kê

    4. Bùi Xuân Phong (2006) Quản trị dự án đầu tư, NXB Bưu chính viễn thông.