(+84) 236.3827111 ex. 402

Bài viết - TS. Dương Thị Thanh Hiền - VAI TRÒ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG TRONG DOANH NGHIỆP


VAI TRÒ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG TRONG DOANH NGHIỆP

Dương Thị Thanh Hiền

 

Tóm tắt

Dựa trên tổng quan các tài liệu kết nối giữa Kế toán quản trị (KTQT) và chiến lược chuỗi cung ứng, bài viết sẽ trình bày khái quát hai vấn đề: khái niệm KTQT và quản trị chuỗi cung ứng, vai trò của KTQT trong chiến lược chuỗi cung ứng của DN trong việc hoạch định, tổ chức thực hiện, đánh giá và điều chỉnh chiến lược chuỗi cung ứng trong DN.

1. Khái niệm

Kế toán quản trị (KTQT) là một phần của quá trình quản trị, hướng về các quy trình xử lý và kỹ thuật, tập trung vào việc sử dụng một cách có hiệu quả và hiệu suất các nguồn lực của tổ chức, hỗ trợ các nhà quản trị (NQT) đưa ra các quyết định trong quá trình lập kế hoạch và tổ chức thực hiện. Đồng thời, cung cấp những báo cáo chuyên sâu giúp NQT kiểm soát, xây dựng và thực hiện các chiến lược của DN (IMA, 2008).

Quản trị chuỗi cung ứng là công việc không chỉ dành riêng cho các nhà quản lý chuỗi cung ứng, mà tất cả các bộ phận trong DN đều phải hỗ trợ và trực tiếp tham gia bằng cách chia sẻ thông tin về những vẫn đề liên quan như: dự báo tình hình cung – cầu, kế hoạch thu mua, kế hoạch sản xuất và phân phối, những thay đổi về công suất sản xuất, các chiến lược marketing… Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các DN tham gia một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc đáp ứng nhu cầu khách hàng (Sunil Chopra & Peter Meindl, 2012). Các chủ thể tham gia vào chuỗi cung ứng có thể khái quát gồm 5 nhóm: nhà cung cấp vật liệu, nhà  sản xuất, nhà phân phối (bán buôn), người bán lẻ (bán sỉ) và khách hàng. Một chuỗi cung ứng bao gồm nhiều DN và một DN, có thể tham gia vào nhiều chuỗi cung ứng khác nhau.

Quản trị chuỗi cung ứng là tập hợp những phương thức để tích hợp và sử dụng hiệu quả các chủ thể tham gia vào chuỗi cung ứng, nhằm phân phối hàng hóa đến đúng lúc, đúng địa điểm, đúng yêu cầu về chất lượng, số lượng, với mục tiêu giảm thiểu chi phí trên toàn chuỗi trong khi tối đa sự thỏa mãn nhu cầu khách hàng (Viện Quản trị Chuỗi cung ứng, 2000). Trong những bối cảnh khác nhau, tất cả các hoạt động quản trị chuỗi cung ứng đều tập trung vào sự thoả mãn của khách hàng, những vấn đề khách hàng quan tâm như: giá cả, chất lượng sản phầm dịch vụ, độ tin cậy, tính linh hoạt, thời gian và địa điểm phân phối… Những điều này phụ thuộc vào các khía cạnh khác nhau của công tác quản trị chuỗi cung ứng và có thể được nhấn mạnh bởi chiến lược chuỗi cung ứng (Novich, 1990). Chiến lược chuỗi cung ứng của một tổ chức, bao gồm tất cả những quyết định chiến lược, chính sách, kế hoạch và văn hoá liên quan đến việc quản trị chuỗi cung ứng (Viện Quản trị Chuỗi cung ứng, 2000).

Kế toán quản trị (KTQT) trong quản trị chuỗi cung ứng (SCM) là việc áp dụng các kỹ thuật tài chính, phi tài chính để lập kế hoạch, kiểm soát và tối ưu hóa dòng chảy từ nguyên liệu thô đến sản phẩm cuối cùng. Sự kết hợp này giúp doanh nghiệp giảm chi phí tồn kho, tăng khả năng cạnh tranh và ra quyết định chiến lược chính xác.

Các nghiên cứu công bố gần đây thường tiếp cận mối quan hệ giữa KTQT và chiến lược chuỗi cung ứng dưới góc độ nghiên cứu việc thiết lập một số kỹ thuật KTQT trong các chiến lược chuỗi cung ứng cụ thể, để hỗ trợ quản lý các cặp, chuỗi, dòng giá trị trong mạng lưới (Lalonde and Pohlen, 1996; Dekker & Van Goor, 2000; Brewer & Speh, 2000; Axelsson et al., 2002; Ramos, 2004; Seuring, 2006; Bastl et al., 2010).

2. Vai trò của kế toán quản trị và quản trị chuỗi cung ứng trong doanh nghiệp

KTQT có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho NQT đưa ra các quyết định tối ưu hoá các hoạt động, các quy trình trong chuỗi cung ứng. Cụ thể:

Thứ nhất, KTQT thu thập, xử lý lý, phân tích và cung cấp thông tin hỗ trợ các NQT hoạch định chiến lược chuỗi cung ứng phù hợp với chiến lược cạnh tranh mà DN đang theo đuổi.

Thứ hai, KTQT thu thập, xử lý lý, phân tích và cung cấp thông tin hỗ trợ các NQT tổ chức thực hiện chiến lược chuỗi cung ứng.

Thứ ba, KTQT thu thập, xử lý lý, phân tích và cung cấp thông tin hỗ trợ các NQT đánh giá và điều chỉnh chiến lược chuỗi cung ứng.

Ngoài việc cung cấp thông tin tài chính, KTQT còn cung cấp thông tin phi tài chính, là cơ sở quan trọng giúp các NQT DN đưa ra các quyết định trong những hoàn cảnh, thời gian, không gian và mục tiêu khác nhau. Tùy thuộc vào từng bước công việc trong quy trình hoạch định chiến lược, tổ chức thực hiện chiến lược, đánh giá và điều chỉnh chiến lược mà NQT sẽ sử dụng thông tin do KTQT cung cấp với nội dung phù hợp. Để có thông tin thích hợp về các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài của chuỗi cung ứng, KTQT cần xem xét, phân tích thông tin về điều kiện thị trường, khách hàng, công nghệ, môi trường kinh doanh, loại nhu cầu, mức dịch vụ chấp nhận, các xu hướng trong ngành, các điều kiện kinh tế, các ràng buộc của vị trí địa lý cũng như chính trị hoặc bất kỳ thông tin bên ngoài nào có liên quan.

3. Kết luận

Do những lợi ích mà chuỗi cung ứng mang lại, việc xây dựng chiến lược cho chuỗi cung ứng ngày càng được các doanh nghiệp (DN) coi trọng. Bài viết khái quát về kế toán quản trị, quản trị chiến lược chuỗi cung ứng, vai trò kế toán quản trị trong chiến lược chuỗi cung ứng của DN.

4. Tài liệu tham khảo

Axelsson, B., Laage-Hellman, J., & Nilsson, U. (2002). Modern management accounting for modern purchasing. European Journal of Purchasing & Supply Management, 8(1), 53-62.

Innes, J., Mitchell, F., & Sinclair, D. (2000). Activity-based costing in the UK’s largest companies: a comparison of 1994 and 1999 survey results. Management accounting research, 11(3), 349-362.

Nguyễn Quỳnh Trang (2023). Kế toán quản trị và chiến lược chuỗi cung ứng của doanh nghiệp: Vai trò và các kỹ thuật áp dụng. Trường Đại học Thương mại. (https://www.hoiketoanhcm.org.vn/cache/0817190_Ke-toan-quan-tri-va-chien-luoc-chuoi-cung-ung.pdf).

Ramos, M. M. (2004). Interaction between management accounting and supply chain management. Supply Chain Management: An International Journal.

Wouters, M. (2006). Implementation costs and redistribution mechanisms in the economic evaluation of supply chain management initiatives. Supply Chain Management: An International Journal, 11(6), 510-521.