Bài viết - ThS. Nguyễn Thị Tấm - THẢO LUẬN VỀ SỰ THAY ĐỔI MỨC THUẾ SUẤT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 2026
THẢO LUẬN VỀ SỰ THAY ĐỔI MỨC THUẾ SUẤT
THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 2026
1. Thay đổi của biểu thuế: ít bậc hơn nhưng khoảng thu nhập rộng hơn
1.1. So sánh cấu trúc trước và từ năm 2026
Trước năm 2026, thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú chịu biểu thuế lũy tiến từng phần gồm 7 bậc với các mức thuế suất 5%, 10%, 15%, 20%, 25%, 30% và 35%. Cách thiết kế này tạo ra nhiều nấc chuyển thuế suất, trong đó các khoảng thu nhập ở nhóm dưới và trung bình tương đối hẹp. Từ năm 2026, biểu thuế chỉ còn 5 mức: 5%, 10%, 20%, 30% và 35%; các mức 15% và 25% được loại bỏ, còn ngưỡng áp dụng các mức thuế suất cao hơn được đẩy lên đáng kể [2][3].
Bảng 1. So sánh biểu thuế lũy tiến theo tháng
|
Bậc |
Đến hết 2025 |
Thuế suất |
Từ 2026 |
Thuế suất |
|
1 |
Đến 5 |
5% |
Đến 10 |
5% |
|
2 |
Trên 5 đến 10 |
10% |
Trên 10 đến 30 |
10% |
|
3 |
Trên 10 đến 18 |
15% |
Trên 30 đến 60 |
20% |
|
4 |
Trên 18 đến 32 |
20% |
Trên 60 đến 100 |
30% |
|
5 |
Trên 32 đến 52 |
25% |
Trên 100 |
35% |
|
6 |
Trên 52 đến 80 |
30% |
— |
— |
|
7 |
Trên 80 |
35% |
— |
— |
Nguồn: tổng hợp từ Luật Thuế TNCN trước sửa đổi và Luật số 109/2025/QH15 [1][2].
Điểm cần nhấn mạnh là giảm số bậc không đồng nghĩa với giảm tính lũy tiến. Tính lũy tiến phụ thuộc vào cách thuế suất biên tăng theo thu nhập và vào độ rộng của từng khoảng thu nhập. Biểu thuế mới vẫn bắt đầu từ 5% và kết thúc ở 35%, nhưng người nộp thuế phải đạt mức thu nhập tính thuế cao hơn mới đi vào các bậc 20%, 30% và 35%. Chẳng hạn, trước đây phần thu nhập tính thuế trên 18 triệu đồng/tháng đã bắt đầu chịu thuế suất 20%; từ năm 2026, mức 20% chỉ áp dụng với phần vượt 30 triệu đồng/tháng. Thuế suất 30% trước đây xuất hiện từ phần thu nhập trên 52 triệu đồng/tháng, trong khi biểu mới chỉ áp dụng từ trên 60 triệu đồng/tháng. Đặc biệt, ngưỡng bắt đầu chịu 35% được nâng từ trên 80 triệu lên trên 100 triệu đồng/tháng.
1.2. Thuế suất biên và thuế suất bình quân: cần phân biệt khi thảo luận
Trong tranh luận xã hội, một nhầm lẫn khá phổ biến là cho rằng khi thu nhập “rơi vào bậc 35%” thì toàn bộ thu nhập bị đánh thuế 35%. Với biểu thuế lũy tiến từng phần, chỉ phần thu nhập nằm trong bậc cao nhất mới chịu mức thuế suất đó. Các phần thu nhập ở bậc thấp hơn vẫn chịu các mức 5%, 10%, 20% hoặc 30%. Vì vậy, thuế suất bình quân mà một cá nhân thực trả luôn thấp hơn thuế suất biên cao nhất áp dụng cho người đó.
Phân biệt hai khái niệm này có ý nghĩa quan trọng khi đánh giá tác động hành vi. Thuế suất bình quân phản ánh phần thu nhập bị chuyển thành nghĩa vụ thuế, còn thuế suất biên cho biết nếu cá nhân kiếm thêm một đồng thu nhập thì bao nhiêu phần của đồng tăng thêm đó phải nộp thuế. Chính thuế suất biên có liên hệ trực tiếp hơn với quyết định làm thêm, nhận thưởng, chuyển từ tiền lương sang hình thức thu nhập khác hoặc thay đổi cách tổ chức công việc. Việc nới các ngưỡng thuế trong biểu mới, do đó, không chỉ làm giảm số thuế phải nộp mà còn trì hoãn thời điểm người lao động bước vào các mức thuế suất biên cao.
2. Minh họa định lượng: mức giảm thuế không giống nhau giữa các nhóm thu nhập
Để tách riêng tác động của biểu thuế khỏi tác động của giảm trừ gia cảnh và bảo hiểm bắt buộc, có thể so sánh số thuế trên cùng một mức “thu nhập tính thuế” hàng tháng. Cách minh họa này không phản ánh toàn bộ số thuế của một cá nhân cụ thể, nhưng cho thấy khá rõ việc thay đổi các nấc thuế ảnh hưởng đến các mức thu nhập khác nhau như thế nào.
Bảng 2. Số thuế phải nộp theo một số mức thu nhập tính thuế
|
Thu nhập tính thuế |
Theo biểu 7 bậc |
Theo biểu 5 bậc |
Giảm tuyệt đối |
Mức giảm |
|
10 |
0,75 |
0,50 |
0,25 |
33,3 |
|
20 |
2,35 |
1,50 |
0,85 |
36,2 |
|
40 |
6,75 |
4,50 |
2,25 |
33,3 |
|
70 |
15,15 |
11,50 |
3,65 |
24,1 |
|
120 |
32,15 |
27,50 |
4,65 |
14,5 |
|
200 |
60,15 |
55,50 |
4,65 |
7,7 |
Ghi chú: tính theo biểu thuế lũy tiến từng phần, chưa xét giảm trừ gia cảnh và các khoản giảm trừ khác. Tác giả tính toán.
Kết quả minh họa cho thấy mức giảm tương đối lớn nhất không nằm ở nhóm có thu nhập cao nhất. Với thu nhập tính thuế 20 triệu đồng/tháng, số thuế giảm khoảng 36,2%; ở mức 40 triệu đồng, giảm khoảng 33,3%. Khi thu nhập tính thuế tăng lên 120 triệu đồng, số thuế vẫn giảm 4,65 triệu đồng mỗi tháng nhưng tỷ lệ giảm chỉ còn khoảng 14,5%. Ở mức 200 triệu đồng, khoản giảm tuyệt đối vẫn là 4,65 triệu đồng, tương đương khoảng 7,7%. Điều này xuất phát từ việc hai biểu thuế đều giữ thuế suất tối đa 35%; sau một mức thu nhập nhất định, lợi ích từ việc nới các bậc thấp hơn trở thành một khoản giảm tương đối ổn định, trong khi tổng nghĩa vụ thuế tiếp tục tăng.
3. Đánh giá chính sách: ba góc nhìn cần đặt cạnh nhau
3.1. Công bằng theo chiều dọc được duy trì, nhưng cách hiểu về “khả năng đóng góp” cần rộng hơn
Nguyên tắc công bằng theo chiều dọc đòi hỏi người có khả năng đóng góp cao hơn phải chịu tỷ lệ thuế cao hơn. Biểu thuế mới vẫn đáp ứng nguyên tắc này vì thuế suất biên tăng dần từ 5% lên 35%. Việc loại bỏ hai mức 15% và 25% không làm mất tính lũy tiến; ngược lại, nó làm các nấc thuế ít dày hơn và dễ nhận biết hơn. Tuy nhiên, đánh giá công bằng không nên chỉ nhìn vào số bậc. Mức giảm trừ gia cảnh, phạm vi các khoản được khấu trừ, cách đánh thuế các loại thu nhập ngoài tiền lương và mức độ thực thi giữa khu vực chính thức với khu vực phi chính thức đều ảnh hưởng tới cảm nhận công bằng.
Một người làm công hưởng lương thường bị khấu trừ thuế khá đầy đủ tại nguồn. Trong khi đó, thu nhập từ các hoạt động kinh doanh nhỏ, nền tảng số, dịch vụ tự do hoặc nhiều nguồn thu khác có thể khó theo dõi hơn. Nếu năng lực quản lý thuế giữa các nhóm thu nhập không đồng đều, việc tăng hay giảm thuế suất đối với tiền lương chỉ giải quyết một phần vấn đề. Công bằng thực chất đòi hỏi mở rộng cơ sở thuế, giảm các khoảng trống tuân thủ và bảo đảm những người có mức thu nhập tương đương không chịu gánh nặng quá khác nhau chỉ vì hình thức nhận thu nhập khác nhau.
3.2. Tác động tới động lực lao động: Tích cực nhưng không nên phóng đại
Theo lý thuyết thuế tối ưu, thuế suất biên quá cao có thể làm giảm động lực tạo thêm thu nhập, đặc biệt khi người lao động có khả năng điều chỉnh thời gian làm việc, cách nhận thù lao hoặc địa điểm cư trú [5][6]. Việc lùi các ngưỡng thuế suất 20%, 30% và 35% về mức thu nhập cao hơn có thể làm giảm cảm giác “bị nhảy bậc” khi tiền lương tăng, nhất là với nhóm chuyên gia và lao động có kỹ năng. Đây là điểm hợp lý trong bối cảnh cạnh tranh nhân lực chất lượng cao ngày càng mạnh.
Tuy vậy, không nên suy luận rằng giảm thuế sẽ tự động làm năng suất lao động tăng đáng kể. Quyết định làm việc của cá nhân còn phụ thuộc vào cơ hội việc làm, tiền lương trước thuế, môi trường nghề nghiệp, chi phí nhà ở, giáo dục, y tế và chất lượng dịch vụ công. Trong nhiều trường hợp, người lao động không thể dễ dàng thay đổi số giờ làm việc chỉ vì thuế suất biên giảm vài điểm phần trăm. Do đó, tác động tích cực của cải cách nên được nhìn như một yếu tố hỗ trợ, không phải một công cụ đơn lẻ để thúc đẩy tăng trưởng.
3.3. Đơn giản hóa biểu thuế có giá trị tự thân
Một chính sách thuế tốt không chỉ cần hợp lý về kinh tế mà còn phải dễ hiểu. Biểu 7 bậc với các ngưỡng tương đối dày khiến nhiều người nộp thuế khó tự ước tính nghĩa vụ, từ đó phụ thuộc vào phần mềm, bộ phận kế toán hoặc các bảng quy đổi có sẵn. Việc giảm xuống 5 bậc tạo ra cấu trúc trực quan hơn: 5% cho phần đầu tiên, 10% cho phần tiếp theo, sau đó là các mức 20%, 30% và 35%. Độ đơn giản này có thể giúp giảm sai sót, tăng khả năng kiểm tra bảng lương và cải thiện cảm nhận minh bạch.
Chi phí tuân thủ thường ít được chú ý trong thảo luận về thuế suất, nhưng lại có ý nghĩa lớn. Nếu người nộp thuế phải dành nhiều thời gian để hiểu quy định, lưu giữ chứng từ và sửa các sai sót, chi phí thực tế của hệ thống thuế cao hơn số thuế ghi trên tờ khai. Do đó, giảm số bậc và đồng thời số hóa thủ tục quyết toán, hoàn thuế, đăng ký người phụ thuộc có thể tạo ra lợi ích vượt ra ngoài phần thuế được giảm trực tiếp.
4. Một số kiến nghị
Thứ nhất, xây dựng cơ chế cập nhật ngưỡng thuế và mức giảm trừ theo chu kỳ rõ ràng. Thay vì để các ngưỡng kéo dài nhiều năm rồi điều chỉnh một lần với biên độ lớn, nên có đánh giá định kỳ, chẳng hạn hai hoặc ba năm một lần. Cơ chế này giúp hạn chế trượt bậc thuế do lạm phát và làm chính sách dễ dự báo hơn cho cả người lao động lẫn doanh nghiệp.
Thứ hai, đánh giá tác động dựa trên thuế suất hiệu dụng chứ không chỉ thuế suất danh nghĩa. Khi so sánh các nhóm thu nhập hoặc so sánh quốc tế, cần tính đến giảm trừ, bảo hiểm bắt buộc, miễn thuế và các khoản khấu trừ. Con số 35% tự thân không phản ánh đầy đủ gánh nặng thực tế.
Thứ ba, tiếp tục đơn giản hóa thủ tục quyết toán và hoàn thuế. Biểu thuế 5 bậc chỉ thực sự tạo ra lợi ích quản trị nếu đi kèm hệ thống dữ liệu được kết nối, hồ sơ điện tử thân thiện, khấu trừ đúng ngay từ đầu và hoàn thuế nhanh. Mục tiêu nên là phần lớn người làm công có một nguồn thu nhập có thể hoàn thành nghĩa vụ thuế mà không cần kiến thức chuyên môn sâu.
Thứ tư, tăng tính trung lập giữa các loại thu nhập. Nếu thu nhập từ tiền lương bị quản lý chặt trong khi các loại thu nhập có bản chất tương tự lại dễ bị bỏ sót, hệ thống sẽ tạo động cơ chuyển đổi hình thức thu nhập. Mở rộng cơ sở thuế và nâng chất lượng dữ liệu quan trọng không kém việc điều chỉnh thuế suất.
Thứ năm, công bố đánh giá định kỳ về tác động phân phối của chính sách. Cần trả lời bằng số liệu xem cải cách làm thay đổi gánh nặng thuế của từng nhóm thu nhập như thế nào. Điều này không chỉ phục vụ nghiên cứu mà còn củng cố niềm tin của người nộp thuế rằng những thay đổi chính sách có cơ sở và được giám sát.
5. Kết luận
Sự thay đổi chính sách thuế TNCN từ năm 2026 là một bước điều chỉnh đáng kể sau thời gian dài biểu thuế và mức giảm trừ gia cảnh bộc lộ độ trễ so với thu nhập và chi phí sinh hoạt. Việc giảm số bậc từ 7 xuống 5, nới rộng các khoảng thu nhập và nâng giảm trừ gia cảnh giúp giảm nghĩa vụ thuế cho phần lớn người làm công, trong đó tác động tương đối nổi bật ở nhóm thu nhập trung bình và trung bình khá. Đồng thời, việc giữ mức thuế suất cao nhất 35% cho thấy mục tiêu điều tiết ở nhóm thu nhập cao vẫn được duy trì.
Điều đáng quan tâm hơn là cải cách năm 2026 mở ra một cách tiếp cận chính sách thực tế hơn: không coi biểu thuế là cấu trúc cố định trong thời gian dài, mà cần được rà soát theo biến động của giá cả, thu nhập và thị trường lao động. Trong giai đoạn tiếp theo, câu hỏi không chỉ là có nên giảm hay tăng thêm thuế suất, mà là làm thế nào để hệ thống thuế vừa lũy tiến, vừa dễ tuân thủ, vừa ít tạo động cơ chuyển dịch thu nhập và đủ linh hoạt trước thay đổi kinh tế. Một biểu thuế tốt không nhất thiết là biểu có nhiều bậc hay thuế suất thấp nhất; đó là biểu thuế mà người nộp thuế có thể hiểu, xã hội có thể chấp nhận và Nhà nước có thể quản lý với chi phí hợp lý.
Tài liệu tham khảo
[1] Quốc hội (2025), Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 ngày 10/12/2025.
[2] Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2026), “Giới thiệu Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15”, đăng ngày 23/01/2026.
[3] Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2026), “Chi tiết Biểu thuế thu nhập cá nhân lũy tiến từng phần”, đăng ngày 29/03/2026.
[4] Bộ Tài chính (2025), “Luật Thuế thu nhập cá nhân (sửa đổi): Người nộp thuế được hưởng nhiều ưu đãi hơn”, Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính.
[5] Mirrlees, J. A. (1971), “An Exploration in the Theory of Optimum Income Taxation”, The Review of Economic Studies, 38(2), 175-208.
[6] Saez, E. (2001), “Using Elasticities to Derive Optimal Income Tax Rates”, The Review of Economic Studies, 68(1), 205-229.
[7] Diamond, P. and Saez, E. (2011), “The Case for a Progressive Tax: From Basic Research to Policy Recommendations”, Journal of Economic Perspectives, 25(4), 165-190.
[8] Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025), Nghị quyết số 110/2025/UBTVQH15 về điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh của thuế thu nhập cá nhân.
- Bài viết - ThS. Hồ Thị Phi Yến - Chính sách giảm thuế thu nhập cá nhân (TNCN), thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) năm 2026
- Bài viết - ThS. Nguyễn Thị Đoan Trang - CHUẨN MỰC IFRS 10 “BCTC HỢP NHẤT”
- Bài viết - ThS. Đinh Thị Thu Hiền - PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CHẤT LƯỢNG SẢN XUẤT SẢN PHẨM
- Bài viết - ThS. Nguyễn Thị Hồng Sương - ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ THÔNG MINH TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TRÍ TUỆ NHÂN TẠO
- Bài viết - ThS. Thái Nữ Hạ Uyên - NHỮNG ĐIỂM MỚI TẠI NGHỊ ĐỊNH 254/2026/NĐ-CP VỀ HÓA ĐƠN ĐIỆN TỬ, CHỨNG TỪ ĐIỆN TỬ